| |
(Nhạc
mở đầu bài hát Bước Chân Việt Nam của
Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ)
Sơn Lâm: Quả đúng như lời bài
hát Bước Chân Việt Nam của cố nhạc sĩ Trầm Tử
Thiêng hợp soạn với nhạc sĩ Trúc Hồ mà quí vị vừa
nghe: "Khắp nơi trên địa cầu giờ in dấu bước chân
Việt Nam". Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, lần đầu
tiên trong lịch sử cận đại, thế giới ghi nhận một cuộc
di cư vĩ đại của người Việt Nam. Trên 2 triệu người Việt
Nam sống sót sau những cuộc hành tŕnh trên biển, trên bộ,
đầy gian nan nguy hiểm để đi t́m tự do. Cộng đồng người
Việt hải ngoại đang sinh sống trên 90 nước trên toàn thế
giới, mà theo con số thống kê không chính thức, tập trung
nhiều nhất ở Hoa Kỳ có 1 triệu 300 ngàn người, rồi đến
Pháp và Úc, mỗi nước có khoảng 250 ngàn người, và kế
tiếp là Gia Nă Đại. Trong đoàn dân Việt sống xa quê hương
đó, ngoài những bước chân lạc điệu, đơn lẻ, làm cộng
đồng nhức nhối mang tai tiếng, đa số thầm lặng c̣n lại
đă bước những bước vững vàng, ổn định một cuộc sống
tốt đẹp trên mănh đất xứ người. Trong
số nầy có một số không nhỏ đă bước những bước dài
ngoạn mục, làm vẽ vang cộng đồng người Việt tỵ nạn
trong nhiều lănh vực, như Khoa học kỹ thuật, Giáo dục,
Kinh tế, Thương mại, Thể dục thể thao, Âm nhạc, Điện ảnh,
Sân khấu, v.v.
Trong tinh thần kỷ niệm 30 năm viễn xứ và trong khuôn khổ
Khoa học kỹ thuật, chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu
cùng quí vị vài gương thành công trong lănh vực Khoa học kỹ
thuật sau 30 năm định cư tại Úc trong mục Tạp chí Khoa học
kỹ thuật tuần nầy và tuần tới, hăy cùng gặp gỡ và làm
quen với các chuyên gia Việt Nam như Giáo sư tiến sĩ Lê Vân
Tú, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hưng, Giáo sư tiến sĩ Kiều Tiến
Dũng, và Tiến sĩ Vơ Thanh Liêm.
(Một
đoạn bài hát Bước Chân Việt Nam)
Trước hết kính mời quí vị cùng gặp gỡ Giáo sư Lê
Vân Tú, một nhà khoa học có nhiều cống hiến trong việc
truyền thụ các kiến thức trong ngành Trí tuệ nhân tạo,
hiện đang giảng dạy tại Viện Đại Học Canberra ở lănh
thổ thủ đô.
Đầu tiên chúng tôi xin mạn phép giới thiệu sơ qua về quá
tŕnh hoạt động của Giáo sư Lê Vân Tú. Giáo sư Lê Vân Tú
tốt nghiệp Cao học Toán thâm cứu Viện Đại Học Sài G̣n,
Văn bằng điện toán tại trường Đại học Melbourne, tốt
nghiệp Cao học Khoa học tại trường Đại Học Tây Úc, và
đỗ Tiến sĩ vào năm 1978 ở Đại học Murdoch. Trước 1975,
Giáo sư Lê Vân Tú là giảng viên môn Toán tại Đại học
Khoa học Sài G̣n, Đại học sư phạm Đà Lạt, Viện Đại
học Vạn Hạnh và Viện Đại học Tây Ninh. Hiện nay Giáo sư
Tú giảng dạy môn Trí tuệ nhân tạo tại Đại học
Canberra. Và sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu Giáo
sư Lê Vân Tú.
Xin chào Giáo sư Tú đă đến với Tạp Chí Khoa Học Kỹ Thuật
buổi tối hôm nay.
Xin chào anh Sơn Lâm và quí thính giả của SBS Radio.
Thưa Giáo sư, giáo sư hiện đang giảng dạy môn Trí tuệ
nhân tạo, Artificial Intelligence tại Viện Đại học Canberra.
Đây là một ngành khoa học đầy khó khăn thách đố nhưng
cũng hết sức thú vị, v́ phải nghiên cứu làm sao để tạo
cho các cổ máy vô tri giác có một số đặc tính giống trí
tuệ con người. Nhân dịp nầy Giáo sư có thể cho biết đôi
nét về những thành quả mà giới nghiên cứu ở Úc nói
chung và giáo sư nói riêng đă đạt được trong lănh vực nầy
không ạ?
Vâng, ngành nghiên cứu về Trí tuệ nhân tạo đă được
khởi động hơn nửa thế kỷ nay, nhưng mà chỉ mới trong
hai thập niên qua mới phát triển khá nhanh cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu. Cùng với những thành quả đă đạt được
trên thế giới, các nhà nghiên cứu ở Úc châu cũng đă đóng
góp những công tŕnh đáng kể. Tuy nhiên v́ phần lớn các
nguồn tài trợ th́ đều ở Hoa Kỳ, cho nên những công tŕnh
của các nhà nghiên cứu Úc thường được công bố ở Hoa
Kỳ, và do đó ít nghe nói đến ở Úc. Một cách tổng quát,
Trí Tuệ Nhân Tạo bao gồm 6 lănh vực: thứ nhất là
Robotics (tức là người máy hay vật máy), thứ hai là
Artificial Life (tức là sự sống nhân tạo), thứ ba là Expert
Systems (tức là Hệ chuyên gia), thứ tư là Language and Image
Processing (tức là Xử lư ngôn ngữ và h́nh ảnh), thứ năm
là Fuzzy Logic and Neural Network (tức là Lư luận mờ và Mạng
lưới thần kinh), và thứ sáu là Evolutionary Computation (tức
là Tính toán theo qui luật tiến hóa). Các khoa học gia của Úc
đă tham gia vào hầu hết các lănh vực trên. Từ các viện đại
học và các trung tâm nghiên cứu như CSIRO, NICTA, SICRT, v.v. Về
những thành quả trong lănh vực AI th́ có lẽ anh Sơn Lâm cũng
đă nghe nói đến một số công tŕnh nổi bật như là máy
chơi cờ chess Deep Blue đă thắng kỳ vương thế giới
Kasparov với tỷ số 3.5 /2.5 trong kỳ thi đấu ở Manhattan,
tháng 5, 1997, mà trong đội ngũ hùng hậu của Deep Blue thi có
nhiều người gốc ở Úc châu, nhưng mà nay th́ họ định cư
ở Hoa Kỳ. Về những hệ y tế chuyên gia như là MYCIN,
CADUCEUS và PUFF vẫn được dùng để giúp các bác sĩ chẩn
bịnh và định bệnh trong các bệnh viện ở Hoa Kỳ. Và chắc
là anh Sơn Lâm cũng đă thấy một số dụng cụ như là máy
giặt, máy hút bụi, máy rửa chén, máy lạnh, máy chụp h́nh,
v.v. ứng dụng Fuzzy Logic đang bán ở trên thị trường. Đó
là những ứng dụng thực tiễn từ công tŕnh nghiên cứu về
Fuzzy Logic mà các nhà nghiên cứu ở Úc, trong đó có cả tôi,
đă đóng góp khá nhiều.
C̣n về lănh vực Robotics th́ đồng thời với những phát
minh trên thế giới như là người máy hút bụi tự động gọi
tên là Robot Sucker DC06 ở Anh, hay là người máy nhạy cảm gọi
là Robot Kismet của Pháp (nó biết buồn, biết vui, biết đ̣i
hỏi, v.v.), và con ruồi máy gián điệp Spy Fly của Mỹ, hăy
tưởng tượng là có thể thả ra hằng ngàn con ruồi như vậy
bay vào vùng của địch để mà nghe lén trong bộ tham mưu của
địch đang bàn những ǵ. Cùng với những thành quả của
thế giới như vậy, ở Úc nói riêng trong ngành Robotics, có
Tiến sĩ Joe Cronin cũng đă tŕnh làng một người máy có tên
là Robotlift rất là mạnh. Một lănh vực khác rất mới là
Artificial Life, các khoa học gia Úc tại Melbourne Royal Hospital đang
cọng tác với Harvard University để tạo ra những bộ phận
nhân tạo như là tử cung nhân tạo, bọng đái nhân tạo, và
cả thớ tim nhân tạo nữa, dùng plastic và silicon để mà đắp
vào trong cơ thể con người để thay cho các bộ phận hư hỏng.
Họ cũng đang nghiên cứu một bộ phận thụ cảm đặt ở
dưới da để đo nồng độ glucose ở trong máu và tự điều
khiển một bộ phận khác để chích insulin vào máu khi cần
cho những người bị bệnh tiểu đường.
Riêng về việc nghiên cứu của tôi th́ thuộc về các lănh
vực Expert Systems, Image Processing, và Fuzzy Logic &
Evolutionary Computation. Những đóng góp của tôi th́ tạm kể
như sau: thứ nhất là một vơ hệ chuyên viên đa ngữ
(Multilingual Expert System Shell) được viết bằng ngôn ngữ
Prolog và đă từng được dùng để thực hiện một hệ
chuyên viên y tế chẩn đoán các bệnh ngoài da của vùng nhiệt
đới bằng tiếng Indonesia. Thứ hai là một hệ chuyên viên
hướng dẫn lưu thông bằng ba thứ tiếng Anh Pháp và Việt.
Nguyên tắc của những vơ hệ chuyên viên nầy đă được
tŕnh bày trong một cuốn sách có tựa là Techniques of
Prolog Programming, do nhà xuất bản Wiley ở New York ấn hành.
Thứ ba là một hệ lư luận mờ hướng dẫn việc thiết lập
danh mục cổ phiếu trong thị trường chứng khoán gọi tên
là Fuzzy Evolutionary Stock Monitoring System. Và thứ tư là
một hệ lư luận mờ khác có tên là Fuzzy Evolutionary
Dietary Composing System giúp những người bị bệnh tiểu đường
thiết lập những bửa ăn đầy đủ năng lượng dinh dưỡng
và bảo đảm có tối thiểu lượng đường, muối, và
colesterol. Ngoài ra th́ cũng c̣n những công tŕnh nhỏ khác
như nhận dạng một người qua nét mặt, dấu tay, màu mắt,
v.v.
Xin cám ơn giáo sư đă trả
lời một cách khá chi tiết câu hỏi của chúng tôi. Là một
người trực tiếp giảng dạy ở đại học, giáo sư nghĩ
như thế nào về lời kêu gọi dân Úc xếp bút nghiên để đi
học nghề mà chính phủ liên bang vừa đua ra để đối phó
với sự thiếu hụt công nhân chuyên môn tại
Úc?
Thưa anh, từ lâu giới đại học Úc vẫn thường chỉ trích
chính phủ liên bang về chính sách hạn chế đại học qua
việc liên tục cắt giảm ngân sách dành cho đại học và tăng
học phí của sinh viên. Đây chỉ là một chính sách ngắn hạn
v́ quan niệm rằng xă hội chỉ cần đào tạo ra những người
biết làm những việc cần thiết mà thôi. Thật ra đó chỉ
là cái nhu cầu sơ đẳng. C̣n mục đích chính của đại học
là mở mang trí tuệ con người. Một người mà đă có trí
tuệ mở mang th́ họ có thể thích ứng trong nhiều hoàn cảnh,
có thể làm được nhiều việc, kể cả những việc mà họ
chưa từng được dạy. Thưa anh, cách đây 40 năm nước Nhật
đă trải qua một thời kỳ mà nhiều người nói đùa là ra
đường ở Nhật th́ gặp ai cũng tốt nghiệp đại học cả.
Anh tài xế taxi cũng có bằng cử nhân, cô bán hàng th́ cũng
có bằng thạc sĩ. Chỉ 20 năm sau đó mới thấy cái lợi của
một xă hội có dân trí cao như vậy. Nhiều công ty vận
chuyển qui mô ở Nhật đă được thành lập bởi những anh
tài xế ngày xưa (Sơn Lâm: nhưng có bằng đại học).
Nhiều cửa hàng được tổ chức hoàn hảo bởi những cô bán
hàng thuở ấy. Đó là v́ anh tài xế có một cái đầu óc đă
mở mang th́ có thể nhận ra những khiếm khuyết trong hệ
thống vận chuyển và ôm ấp những hoài bảo cùng nghĩ đến
những phương pháp cải thiện sau nầy. Tương tự như vậy,
một cô bán hàng có học thức th́ cũng có khả năng mơ ước
một hệ thống cửa hàng được tổ chức hoàn hảo hơn. Chứ
một người mà chỉ biết làm cái việc ḿnh đă được dạy
cho để làm, th́ chắc là không có những ước mơ như vậy.
Cho nên một dân tộc với dân trí cao th́ có khả năng tiến
bộ nhanh mà không cần phải nhập cảng chất xám hay là di
dân có tay nghề. V́ vậy theo tôi th́ chính phủ nên khuyến
khích sinh viên đi làm mà không cần xếp bút nghiên như là
anh đă nói.
Dạ thưa giáo sư, giáo sư nghĩ như thế nào về tiềm lực
khoa học kỷ thuật trong cộng đồng người Việt ở hải
ngoại nói chung và ở Úc nói riêng sau 30 năm định cư?
Thưa anh, nhiều bản tường tŕnh của các cơ quan xă hội
ở các nước có người Việt định cư đă cho thấy là sau
30 năm định cư, người Việt đă thành công rất đáng kể
trong cả hai lănh vực kinh doanh và khoa học kỷ thuật. Riêng
trong lănh vực khoa học kỷ thuật th́ cộng đồng Việt Nam
ḿnh ở hải ngoại có một đội ngũ chuyên viên rất là đông
đảo. Đó là một tiềm lực quan trọng cho việc phát triển
xă hội, và tiềm lực nầy đang được các chính quyền sở
tại xử dụng khá hữu hiệu. Các cơ quan ở Hoa Kỳ nghiên
cứu không gian NASA chẳng hạn th́ cũng có người Việt tham
gia vào. Riêng ở Úc th́ nếu mà anh có dịp đến các cơ
quan có ứng dụng về điện toán như Sở Thuế vụ, Nha Xă
hội, Pḥng Thống kê, Bộ Y tế, v.v. th́ sẽ dễ dàng nhận
thấy là số chuyên viên Việt Nam chiếm một tỷ lệ khá
cao. Ở các đại học và các cơ sở nghiên cứu khoa học kỷ
thuật như CSIRO, NICTA, v.v. số chuyên gia người Việt cũng
khá đông đảo. Tuy nhiên những tổ chức do người Việt ḿnh
lập ra để mà thu hút một số tiềm năng của các chuyên
gia Việt Nam với mục đích chuẩn bị cho việc phát triển
xă hội Việt Nam sau nầy, như là Hội Chuyên Gia Việt Nam, Hội
Y Dược Việt Nam, v.v. th́ c̣n quá ít ỏi và theo tôi th́ chưa
có hiệu quả bao nhiêu. Có lẽ là v́ điều kiện chưa thích
hợp chăng.
Thưa giáo sư, được biết ngoài việc nghiên cứu và giảng
dạy, giáo sư c̣n là một nhạc sĩ sáng tác, và năm ngoái
Giáo sư Tú đă cho ra mắt đứa con tinh thần đầu tiên là
một CD mang tựa đề "Tâm Tưởng" gồm 10 nhạc
phẩm do chính ông sáng tác và được các giọng hát tài
danh tŕnh bày. Nhân dịp nầy giáo sư có thể chia xẽ với
thính giả đang nghe chương tŕnh hôm nay là có phải giáo sư
mượn âm nhạc để thư giăn tinh thần sau những ngày giờ
nghiên cứu, và theo giáo sư th́ âm nhạc và khoa học có bổ
sung cho nhau không ạ?
Thưa anh, không phải là tôi mượn âm nhạc để thư giăn
đâu. Mà tôi vẫn sống với âm nhạc đó thôi. Các bạn của
tôi, như Từ Công Phụng chẳng hạn, th́ vẫn biết là tôi đă
sáng tác ca khúc từ hơn 40 năm trước. Nhưng mà không nhiều
và không đều, mà cũng không có th́ giờ để phổ biến. Tôi
vẫn thường chơi nhạc và thỉnh thoảng sáng tác để ghi lại
những xúc cảm của ḿnh trước những biến chuyển của đời
sống, và để giữ cho tâm hồn khỏi khô héo cằn cỗi v́
những sóng gió phủ phàng của cuộc đời. Tôi không nghĩ là
có sự liên hệ ǵ giữa khoa học và âm nhạc, v́ trong việc
nghiên cứu khoa học th́ ḿnh dùng cái trí tuệ của ḿnh, c̣n
trong âm nhạc th́ ḿnh lại nương theo những xúc cảm của
tâm hồn. Thật ra th́ cũng có thể dùng computer để mà viết
nhạc đó. Tuy nhiên những bài nhạc như thế th́ nó có thể
đúng với những qui luật về ḥa âm, nhưng mà nghe th́ chắc
là khó cảm đuợc thưa anh.
Xin thay mặt Ban phát thanh Việt ngữ
SBS cám ơn Giáo sư Lê Vân Tú đă dành cho chúng tôi buổi tâm
t́nh hôm nay, và trước khi dứt lời, giáo sư có muốn nhắn
nhủ điều chi với giới trẻ nói chung và giới sinh viên học
sinh Việt Nam nói riêng?
Nói nhắn nhủ th́ nghe trịnh trọng quá thưa anh. Tôi chỉ
xin tŕnh bày một ư kiến sau cùng, đó là: Khoa học Kỹ thuật
là căn bản của sự phát triển xă hội về mặt vật chất,
tức là làm cho xă hội sung túc hơn, con người được nhiều
tiện nghi hơn. Nhưng mà chính Văn học Nghệ thuật mới làm
cho xă hội được phong phú hơn, tức là làm cho con người được
hạnh phúc hơn và đời sống ư vị hơn. Đời sống của một
người th́ gồm có thể chất, trí tuệ và tâm hồn, và cả
ba phương diện ấy đều cần phát triển để có được một
cuộc sống hài ḥa và hạnh phúc. V́ thế mà Văn học Nghệ
thuật cũng rất cần cho đời sống, chứ không phải chỉ cần
có Khoa học Kỹ thuật thôi, thưa anh.
Và để kết thúc buổi chuyện tṛ với Giáo sư Lê Vân
Tú hôm nay, chúng tôi xin mạn phép lấn sang tiết mục Vui Đời
Nghệ Sĩ của anh Vũ Nhuận để gởi đến quí thính giả một
bài hát do Giáo sư Tú sáng tác. Vậy thưa giáo sư, trong số
10 nhạc phẩm trong CD Tâm Tưởng, giáo sư muốn gởi đến
quí thính giả đang lắng nghe chương tŕnh hôm nay bài hát nào
ạ?
Vâng, nếu anh có thể cho nghe th́ những người đă từng
nghe CD đó , họ cho rằng bài Tiễn Em Về là bài gây nhiều
xúc động nhất. Vậy th́ anh cho bài đó ạ.
Vâng, cám ơn Giáo sư Tú, và sau đây kính mời quí vị
thưởng thức một đoạn trong nhạc phẩm Tiễn Em Về của
Giáo sư nhạc sĩ Lê Vân Tú.
(Đoạn
đầu nhạc khúc Tiễn Em Về, ca sĩ Mỹ Tâm)
Và theo chỗ chúng tôi được biết Giáo sư Lê Vân Tú đang
thực hiện CD mang tựa đề Có Em Bên Đời sẽ hoàn tất
vào cuối tháng 7, và có thể tŕnh làng vào năm 2006.
(Tiếp
tục đoạn cuối nhạc phẩm Tiễn Em Về, ca sĩ Mỹ Tâm).
Sơn Lâm thực hiện
|